Vietnamese English French German Japanese Korean
  • Home
  • VISA Lao động Định cư EB-3

VISA Lao động Định cư EB-3

Thời gian để tiến hành lấy VISA Lao động Định cư EB-3 áp dụng cho các khu vực, quốc gia trên thế giới là khác nhau, riêng với Việt Nam, thời gian tương đối nhanh hơn các nước khác gấp 3-4 lần, chỉ kéo dài từ 24 đến 48 tháng.

visa-lao-dong-dinh-cu-eb-301

Sau khi thành công lấy VISA Lao động Định cư EB-3 và đặt chân đến Mỹ, toàn bộ gia đình đương đơn bao gồm các con dưới 21 tuổi sẽ được cấp thẻ xanh vô điều kiện và được hưởng đầy đủ quyền lợi của Thường trú nhân như các con sẽ được học miễn phí tại trường công suốt 12 năm trung học, được ưu tiên xét tuyển vào đại học, và sau đó sẽ được thi lấy quốc tịch Mỹ.

Một trong những điều kiện cơ bản để lấy  VISA Lao động Định cư EB-3 là đơn vị tuyển nhân viên tại Mỹ phải có quy mô hoạt động có nhiều nhân viên và có kế hoạch mở rộng sản xuất trong 2 năm sắp tới.

Việc chứng minh nhân thân, mục đích định cư tại Mỹ, và khả năng tài chính của gia đình đương đơn sẽ giúp họ không trở thành gánh nặng của xã hội sẽ là những điều kiện tất yếu để tham gia chương trình visa định cư diện EB-3 này.

Và bạn có thể nộp đơn lấy Và bạn có thể nộp đơn ứng tuyển tại Cty Thành Việt link http://laodongdinhcueb3.com/mau-dang-ky-eb-3 tại Cty Thành Việt link http://laodongdinhcueb3.com/mau-dang-ky-eb-3

VISA Lao động Định cư EB-3

Chứng chỉ lao động bắt buộc với diện ưu tiên 3 và với diện ưu tiên 2 không xin được National Interest Waiver (NIW).Để bảo lãnh thẻ xanh cho một công nhân thông qua chứng chỉ lao động, người chủ phải chứng minh đã thực hiện công việc tuyển người một cách thỏa đáng và không có đủ ứng viên người Mỹ đủ tiêu chuẩn để bổ khuyết chức vụ cho công việc cần người đó.

tai-sao-chon-tvi

Ngày 27 tháng 12 năm 2004, Bộ Lao Động Hoa Kỳ đã thông báo một qui định mới chi phối tất cả đơn xin chứng chỉ lao động cho người nước ngoài nộp kể từ ngày 28 tháng 3 năm 2005. Người chủ nộp đơn xin chứng chỉ lao động cho Bộ Lao Động để bảo lãnh qui chế thẻ xanh cho người nước ngoài bằng cách chứng minh số công nhân người Mỹ hội đủ tiêu chuẩn tối thiểu cho công việc bị thiếu hụt.

Qui định mới của Bộ Lao Động, được biết dưới tên Program Electronic Review Management (PERM), sẽ không áp dụng cho những đơn xin chứng chỉ lao động đang chờ giải quyết. PERM cũng không áp dụng cho những đơn xin chứng chì lao động nộp trước ngày 28 tháng 3 năm 2005. Phần tóm tắt dưới đây sẽ mô tả cách thức nộp đơn theo thủ tục PERM.

PERM cung cấp một hệ thống chứng nhận tự động điện tử thay thế hệ thống dùng giấy. Với hệ thống dùng giấy, cả nhân viên của cơ quan lao động tiểu bang ở địa phương lẫn nhân viên của Bộ Lao Động ở liên bang đều phải duyệt xét tất cả các đơn. Theo thủ tục PERM, người chủ sẽ phải điền một mẫu đơn điện tử gọi là ETA-9089. Trong mẫu đơn đó, người chủ trả lời một loạt câu hỏi liên quan đến người chủ và đến việc tìm người làm. Người chủ phải lưu giữ giấy tờ hỗ trợ cho đơn xin nhưng không cần nộp cho Bộ Lao Động ngoại trừ trường hợp kiểm soát.

Trong trường hợp không có kiểm soát, Bộ Lao Động ước lượng họ sẽ chấp thuận những hồ sơ PERM trong vòng từ 45 cho đến 60 ngày. Trong trường hợp kiểm soát, nhân viên thẩm duyệt (Certifying Officer) của Bộ Lao Động sẽ gửi thư cho người chủ để yêu cầu bổ sung giấy tờ. Người chủ sẽ có 30 ngày để trả lời lá thư và có thể được gia hạn thêm 30 ngày nếu người chủ xin phép. Sau khi nhận được thư trả lời của người chủ, nhân viên thẩm duyệt có thể chấp nhận đơn xin chứng chỉ hành nghề, yêu cầu bổ sung thêm giấy tờ hay bắt buộc người chủ tăng gia nỗ lực tìm người dưới sự kiểm tra trực tiếp của Bộ Lao Động.

Những điều khoản chính và phụ của qui định PERM gồm những điều như sau:

Chứng từ về tuyển người  VISA Lao động Định cư EB-3

Trước khi điền mẫu ETA-9089, người chủ phải nỗ lực tuyển người và dẫn chứng việc tuyển người bằng tài liệu. Việc tuyển người đó bị bắt buộc bởi qui định. Ít nhất, người chủ phải:

a. Niêm yết thông báo tìm người làm việc ở những nơi dễ thấy ngay chỗ làm trong vòng tối thiểu 10 ngày làm việc.

b. Đăng thông báo tìm người làm việc trong tất cả phương tiện thông tin truyền bá trong nội bộ cơ quan. Điều này bao gồm thông báo điện tử (thí dụ, thông báo đăng trên trang Web của người chủ) và trong tất cả phương tiện thông tin ấn loát. Điều khoản này và điều khoản bắt buộc niêm yết thông tin nói ở trên không dính dáng gì đến nhau. Thời gian và cách đăng thông báo trong những phương tiện thông tin truyền bá trong nội bộ phải phù hợp với thủ tục thông thường sử dụng bởi người chủ để tuyển người cho những công việc tương tự.

c. Đăng thông báo tìm người qua trung gian của State Workforce Agency (SWA) trong vòng 30 ngày. SWA là văn phòng tiểu bang của Bộ Lao Động ở địa phương. Văn phòng này có quyền hạn ở nơi của việc làm đó.

d. Đăng hai quảng cáo tìm người trong hai ngày chủ nhật khác nhau trong môt nhật báo phổ biến rộng rãi trong vùng của việc làm đó. Quảng cáo đó không cần nói đến tiền lương hay không cần nói đến chi tiết điều kiện của công việc, nhưng phải đủ rõ rang để nhân công người Mỹ biết rõ về cơ hội việc làm. Nếu công việc đòi hỏi kinh nghiệm và bằng cấp cao, người chủ có thể chọn đăng một kỳ quảng cáo trong một tạp chí chuyên ngành thay một trong hai quảng cáo của ngày chủ nhật.

e. Đối với những công việc chuyên gia, người chủ phải làm thêm 3 nỗ lực tuyển người. Ngoài những cách tuyển người nói ở trên, đối với những công việc chuyên gia (có nghĩa là công việc đòi hỏi bằng cấp đại học hay cao hơn), người chủ phải làm 3 trong số 10 nỗ lực tuyển người sau đây trong vòng 180 ngày trước khi nộp đơn xin chứng chỉ lao động:

  • Chợ phiên về việc làm.
  • Trang Web của người chủ.
  • Trang Web tìm việc làm không phải của người chủ.
  • Tuyển người trong trường đại học
  • Những tổ chức thương mại hay chuyên ngành
  • Những công ty thuê mướn người
  • Chương trình giới thiệu nhân viên
  • Thông báo tìm người làm việc niêm yết ở văn phòng tìm việc trong trường đại học
  • Báo địa phương hay báo của dân sắc tộc nếu thích hợp với công việc
  • Quảng cáo trên những đài phát thanh và truyền hình

f. Soạn một bản báo cáo chi tiết về việc tuyển người. Người chủ phải soạn và ký một bản báo cáo về việc tuyển người sau khi hoàn tất việc quảng cáo. Bản báo cáo phải cho biết số người được nhận và số ứng viên người Mỹ bị loại bỏ phân loại theo lý do từ chối hợp pháp liên quan đến công việc. Nhân viên thẩm duyệt có thể yêu cầu người chủ nộp lý lịch việc làm của những ứng viên xin việc người Mỹ và bắt người chủ phân những lý lịch đó theo lý do từ chối.

g. Xét những nhân viên bị sa thải hội đủ tiêu chuẩn: Nếu có thể, người chủ phải thông báo công việc cần người cho những người bị đuổi việc trong vòng 6 tháng đã làm cho người chủ trong công việc mà người chủ đang tìm cách xin chứng chỉ lao động hay trong công việc có liên hệ và xét đơn của họ trước khi điền mẫu ETA-9089. Người chủ phải dẫn chứng bằng tài liệu là họ đã cho công việc cần người cho những nhân viên bị đuổi việc đủ khả năng làm công việc đó, sẵn sàng làm công việc đó và hội đủ tiêu chuẩn cho công việc đó.

Tiền lương thịnh hành:

Chiếu theo PERM, người chủ phải trả 100% của đồng lương mà Bộ Lao Động quyết định là đồng lương thịnh hành cho công việc mà người chủ xin chứng chỉ lao động. Lúc trước, người chủ được phép trả trong khoảng 95 % của đồng lương thịnh hành cho công việc đó. Người chủ phải nộp cho SWA mẫu đơn yêu cầu tiền lương thịnh hành và nhận được trả lời trước khi điền mẫu đơn ETA-9089. Nếu người chủ bất đồng với quyết định về tiền lương thịnh hành, người chủ có thể bổ sung thông tin, nộp đơn khác yêu cầu tiền lương thịnh hành hay chống lại quyết định của SWA về tiền lương thịnh hành.

Điều lệ đặc biệt dành cho giáo sư dạy đại học:

Lúc trước, chứng chỉ lao động xin cho giáo sư dạy đại học được xử lý thông qua thủ tục Special Handling (Xử lý đặc biệt) ở Bộ Lao Động. Theo PERM, thủ tục vẫn còn tồn tại, nhưng mang tên là Optional Special Recruitment (Sự tuyển người đặc biệt tùy ý).

Thủ tục này rất có ích, bởi vì tiêu chuẩn thẩm định ứng viên Hoa Kỳ có lợi hơn cho giáo sư dạy đại học. Theo PERM bình thường, tiêu chuẩn thẩm định như sau: néu bất kỳ công nhân người Mỹ nào hội đủ tiêu chuẩn tối thiểu, người chủ không được tiếp tục nộp đơn để bảo lãnh người công nhân nước ngoài mặc dù người công nhân nước ngoài đạt tiêu chuẩn cao hơn.

Theo Optional Special Recruitment, tiêu chuẩn như sau: nếu giáo sư nước ngoài đạt tiêu chuẩn cao hơn, người chủ có thể tiến hành việc nộp đơn mặc dù có những nhân công người Mỹ khác hội đủ tiêu chuẩn tối thiểu nộp đơn.

Để có thể lợi dụng tiêu chuẩn này, những hồ sơ xin chứng chỉ lao động cho giáo sư đại học nộp ngày 28 tháng 3 năm 2005 hay sau ngày 28 tháng 3 năm 2005 phải chứa những thong tin sau đây:

Mẫu ETA 9089:

Đây là đơn xin chứng chỉ lao động mới chiếu theo PERM. Đơn xin phải nộp trong vòng 18 tháng sau ngày đương đơn được lựa chọn cho công việc theo đúng tiến trình tuyển người có thi tuyển.

Tiền lương hiện hành:

Người chủ phải đồng ý trả 100% của đồng lương hiện hành quyết định cho công việc khi đương đơn trở thành thường trú nhân. Trước đó, người chủ được phép trả trong khoảng 95% của đồng lương thịnh hành cho công việc đó. Nếu người chủ bất đồng với quyết định về tiền lương thịnh hành, người chủ có thể bổ sung thông tin, nộp đơn khác yêu cầu tiền lương thịnh hành hay chống lại quyết định của SWA về tiền lương thịnh hành.

Chứng từ về việc tuyển người:

Người chủ phải tuyển người theo đúng thủ tục bình thường qui định trong PERM hay dẫn chứng bằng văn kiện rằng đương đơn đã được lựa chọn thông qua tiến trình thi tuyển trong đó đương đơn được ghi nhận là đạt tiêu chuẩn cao hơn những ứng viên người Mỹ. Người chủ phải soạn một bản tường trình chi tiết giải thích những nỗ lực tuyển người trong đó người chủ liệt kê tổng số các ứng viên và cho biết những lý do cụ thể và liên quan đến công việc tại sao đương đơn đạt tiêu chuẩn cao hơn những ứng viên người Mỹ khác và người chủ phải ký tên trên bản tường trình đó. Người chủ cũng phải chuẩn bị các giấy tờ sau đây:

  • Một bản báo cáo chung kết của hội đồng đề nghị mướn đương đơm để dạy học sau tiến trình tuyển dụng người.
  • Một bản sao của quảng cáo đăng tối thiểu trong một tờ tạp chí chuyên môn toàn quốc. Quảng cáo gồm có tên hay tựa công việc, công việc và điều kiện.
  • Bằng chứng